Nguyên nhân bênh viêm dạ dày mãn tính và các triệu chứng

Viêm dạ dày mãn tính tương tự như loét dạ dày-tá tràng, là một loại bệnh hệ thống tiêu hóa, rất thường gặp. Tuy không nghiêm trọng như loét dạ dày-tá tràng, nhưng viêm dạ dày mãn tính cũng khá phức tạp cả về nguyên nhân lẫn bệnh lý.

Y học cổ truyền xếp bệnh viêm dạ dày mãn tính vào chứng “Vị quản thống”, “Tâm thống” hay “Tâm hạ thống”, tức là đau vùng thượng vị.

Nguyên nhân

1/ Theo y học hiện đại

– Chưa biết rõ nguyên nhân

– Có thể do rối loạn chức năng

– Thường có 3 dạng bệnh lý

a. Viêm dạ dày thể nóng: do niêm mạc dạ dày tiết xuất dịch vị gây loét, chảy máu trong khi các tuyến dạ dày vẫn bình thường.

b. Viêm dạ dày thể teo: do nếp nhăn niêm mạc, dạ dày teo, tình trạng viêm xâm nhiễm vào tầng trong lớp niêm mạc, phần lớn các tuyến dạ dày bị teo hết

c. Viêm dạ dày thể phì đại: Hiện tượng nếp nhăn niêm mạc dạ dày trở nên thô và dày lên, tình trạng viêm xâm nhiễm vào vùng hoạt động của chất niêm mạc làm các tuyến tăng sinh.

2/ Theo Đông y

Có 3 nguyên nhân chính:

a. Do ngoại tà phạm vị: Ngoại tà bao gồm hàn tà hoặc ăn uống đồ sống lạnh, béo ngọt, tạo hàn tích hay thấp nhiệt bên trong khiến vị hàn sinh đau. Cũng có thể do tỳ hư hàn hiệp với hàn tà xâm nhiễm gây nhiễu động tới vị sinh đau.

b. Do can khí uất kết: Nghĩ suy u uất hại đến can, can khí đình tích phạm đến vị gây đau. Can khí uất lâu ngày thì hóa hỏa, hỏa hại phần âm nên gây đau, ngày càng tăng.

c. Do tỳ vị hư hàn: Vì nhọc mệt quá sức, no đói thất thường, tỳ vị bị tổn thương. Lâu ngày tỳ khí và khí bị hư hàn không làm tròn chức năng tiêu hóa gây đau.

Tuy nguyên nhân đa dạng nhưng Đông y chỉ quy vào một ý: “Thống bất thông, thông bất thống”, có nghĩa “Đau là do đình trệ, không đau nhờ thông suốt”. Khí trệ, huyết ứ lâu ngày không thông thì sinh ra chứng “vị quản thống”, nặng thì thành “trưng hà” hay “cổ trướng”.

Chuẩn đoán:

1/ Theo y học hiện đại:

a. Dựa vào triệu chứng lâm sàng:

– Đau tức hoặc cảm thấy bỏng rát vùng thượng vị nhất là sau khi ăn.

– Đầy bụng, chướng hơi, ở được thấy dễ chịu, ăn kém, nôn hoặc buồn nôn ợ chua.

– Nếu là viêm dạ dày thể teo thường đầy bụng, không thiết ăn uống, đau âm ỉ, suy nhược.

– Nếu viêm dạ dày thể phì đại thường đau kéo dài, có thể xuất huyết, đau bất chợt.

b. Dựa vào kiểm tra dịch vị

– Khối lượng dịch vị giảm, nồng độ acid giảm

– Nếu viêm thể nông và phì đại, độ acid dịch vị thay đổi không ổn định; trong khi ở thể teo thì giảm rõ rệt.

c. Dựa vào phương pháp nội soi

– Ở thể nông, khu vực niêm mạc viêm thường bị sung huyết, phù nề, có điểm xuất huyết hoặc loét.

– Ở thể teo, niêm mạc mỏng, nếp nhăn teo thấy rõ màng lưới mao trạch.

– Ở thể phì đại, nếp nhăn thô, ngoằn ngoèo, có hình núm vú, có vết loét.

d. Dựa vào sinh thiết

– Ghi nhận niêm mạc dạ dày mỏng

– Các tuyến ngắn lại hay biến mất

– Có sự xâm nhiễm có tế bào viêm

e. Dựa vào X-ray

– Chỉ cho kết quả gợi ý, không có giá trị cao.

Biến chứng

– Ở thể phì đại thường xảy ra hiện tượng xuất huyết ồ ạt.

– Ở thể teo thường bị polip dạ dày hoặc ung thư hóa

– Trường hợp bệnh nhân sụt cân nhiều, xét nghiệm máu dương tính liên tục là triệu chứng bị ung thư hóa, bệnh rất nặng, phải hết sức chú ý.

2/ Theo Đông y học

a. Do ngoại tà gây trì trệ

  • Nếu do hàn tà thì đau dữ dội, sợ lạnh, ưa nóng ẩm, không khát nước, lưỡi nhợt, mạch đi khẩn. Phân tích: Khi hàn tà phạm vào vị hoặc do thực phẩm sống lạnh thì hàn tích trong dương, khí bị hàn lấn át gây đau.
  • Nếu do thực trệ, ăn uống không tiêu, thì bụng đầy trướng, ợ hơi, ợ chua, nôn ra thức ăn, phân nhão, rêu lưỡi trắng dày. Phân tích: đồ ăn không hóa ra tinh ba thì biến thành ung thối, gây đau, bắt nôn ói để tóng khứ ra ngoài. Ói được thì bệnh giảm là thực tích.

b. Do can khí phạm vị

  • Có hiện tượng vùng vị quản đau tức, ấn vào đau thêm, đau lan xuống hông sườn, ợ hơi, đại tiện khó, mạch đi huyền.
  • Phân tích: Can chủ sơ tiết, khi bị uất thì phạm vào vị gây đau (mộc khắc thổ). Hông sườn thuộc về bộ vị của can mộc, khí uất thì hông sườn đau. Vị khí không thông giáng thì sinh đầy tức, ợ hơi, đi tiêu khó. Mạch huyền là trệu chứng can khí phạm vị.

c. Do tỳ vị hư hàn:

  • Có hiện tượng đau bụng lâm râm, nôn ra nước trong trong, thích chườm nóng, ăn uống nóng.
  • Chân tay lạnh,  đại tiện lỏng, lưỡi nhợt, mạch đi nhuyễn nhược hoặc trầm tế.
  • Phân tích: Tỳ vị hư hàn thì dương khí không vận hóa như nồi gạo thiếu lửa, lâu dần gạo ung thối biến thành chất độc, phải đổ đi (nôn ói) thì nồi mới sạch. Mạch đi nhuyễn nhược hay trầm tế là bệnh hư hàn.

d. Do ứ huyết

  • Đau vùng thượng vị tại 1 điểm không di chuyển, có lúc đau quặn như dùi đâm, có lúc nôn ra máu hoặc đi tiêu ra máu, phân đen, lưỡi thâm tím, mạch đi tế sắc.
  • Phân tích: Đau lâu không khỏi thì làm khí trệ huyết ứ. Huyết ứ là hiện trạng hữu hình nên đau cố định một chỗ. Đau lâu làm tổn thương lạc mạch nên thổ huyết, đi tiêu phân đen. Lưỡi thâm tím, mạch tế sắc là hiệu ứng huyết ứ trong chuẩn đoán học của Đông Y.