Chuẩn đoán Cao huyết áp

Huyết áp biểu thị bằng lực chịu đựng mỗi lần tim đạp và đẩy máu vào thành động mạch. Đọc cao điểm (peak reading) áp suất trong nỗ lực co bóp này chính là áp suất tâm thu. Sau cái đập, tim giãn nở và huyết áp hạ xuống, điểm đọc thấp nhất là chỉ dấu của áp suất tâm trương.

Biểu đồ huyết áp

Theo Tổ chức Y Tế Thế Giới (world Health Organization – WHO or OMS), huyết áp bình thường ở người lớn là 140/90 mmHg hoặc thấp hơn. Vậy con số 140/90 hay 120/80 có ý nghĩa gì? Cách đọc như sau:

– 120 (tâm thu – systolic)

– 80 (tâm trương – diastolic)

Huyết áp cao được phân định theo từng mức độ khác nhau và tùy thuộc vào nhiều yếu tố như: Tuổi tác, gia đình, chủng tộc, giới tính, môi trường, thời tiết… Dưới đây là những con số tiêu biểu:

Tâm thuTâm trươngLượng định
120 – 160

140 – 160

140 – 180

160 trở lên

90 – 94

95 – 104**

105 – 114

115 trở lên

Trung bình

Nhẹ

Hơi cao

Nghiêm trọng

Nếu Bác sĩ đo huyết áp cho ông, bà mà lấy làm lo lắng khi thấy số đếm tâm thu (dấu *) hơi cao hoặc quá cao, xin ông bà cần phải chú ý luôn cả số đếm của tâm trương (dấu **), bởi vì nó cũng là một nhân tố hết sức quan trọng.

Áp suất tâm trương, trị số trung bình thường thấp hơn 82mmHg mới được coi là an toàn. Khi áp suất tâm thu lên cao hơn 158mmHG, nguy cơ tim mạch bị chết đột ngột tăng gấp 2 lần so với tỷ lệ tâm thu bình thường nằm dưới mức 130mmHg.

Chẩn đoán chứng cao huyết áp

Huyết áp cao là khi đo huyết áp thấy chỉ số cao hơn 140/99mmHg

– Được xác định bị huyết áp cao là khi đo huyết áp thấy chỉ số cao hơn 140/99mmHg mà tuổi dưới 50 và cao hơn 150/95mmHg cho những người trên 50 tuổi.

– Khi thính chẩn, tức nghe bệnh, phát hiện thêm tiếng dội (bruits) của động mạch chủ bụng (abdominal aorta) hay động mạch cảnh, động mạch đùi.

– Khi soi đáy mắt, lộ ra hình ảnh động – tĩnh mạch võng mạc có dấu hiệu co thắt trong những trường hợp bị bệnh não tăng huyết áp hay phù gai thị.

– Khi ván chẩn, tức hỏi bệnh, tiền sử của bệnh nhân cộng thêm kết quả cuộc khảo sát về y khoa có thể là những nhân tố đưa tới kết luận một cách cơ bản về huyết áp cao.

  • Muốn biết thận có bệnh hay không, nhờ các xét nghiệm:

– Xét nghiệm nước tiểu: Thấy sự hiện diện của chất đạm (protein), tế bào hồng huyết cầu và tế bào bạch huyết cầu như là biểu thị của chứng viêm thận tiểu cầu.

– Chụp X-ray đường niệu tiêm tính mạch: Teo thận là chỉ dấu bệnh thận mãn tính. Một quả thận nhỏ nhất thường phải to hơn 1.5cm (tương đương với 5/8”), nếu nhỏ hơn là bị bệnh thận.

– Đo lường Serum potassium: Nếu mức serum potassium ít hơn 3.5mEq/L là dấu hiệu loạn chức năng tuyến thượng thận.

– Xét nghiệm mức urea nitrogen trong máu (blood urea nitrogen – BUN) và huyết thanh creatinine (blood serum creatinine): Nếu mức BUN bình thường hoặc tăng cao hơn 20mg/dl, chứng tỏ bị bệnh thận. Nếu mức serum creatinine bình thường hoặc cao hơn 1.5mg/dl, cũng chỉ dấu bị bệnh thận.

  • Muốn biết tim mạch có hư hại và bị những biến chứng khác hay không căn cứ vào một số kiểm chứng sau đây:

– Tâm điện ký: Cho thấy phì đại tâm thất trái hoặc thiếu máu cục bộ.

– Chụp X-ray ngực: Thấy tim to.

– Siêu âm tâm ký: Thấy phì đại tâm thất trái, kết quả giống như kiểm tra bằng pháp tâm điện ký.

– Chụp X-ray động mạch thận: Thấy hẹp động mạch thận.

Điều trị cao huyết áp theo Y học hiện đại

huyết áp thấp

Đo huyết áp định kỳ là cách tốt nhất để dự đoán bệnh huyết áp cao

Y học hiện đại chia huyết áp cao thành 2 thể.

– Huyết áp cao thông thường (thể hoãn)

– Huyết áp cao ác tính (tăng đột ngột, biến chứng trầm trọng

Theo Tổ Chức Y Tế Thế giới (World Health Organization – WHO – OMS), huyết áp cao được phân chia làm 3 thời kỳ:

– Thời kỳ thứ 1:Huyết áp cao nhưng chưa ảnh hưởng đến tim

-Thời kỳ thứ 2: Huyết áp cao có ảnh hưởng đến tim (như tâm thất trái to, suy tim, động mạch đáy mắt hẹp, protein niệu) nhưng chưa gây tổn thương đến các cơ quan khác.

– Thời kỳ thứ 3: Huyết áp cao, ngoài việc gây hư hại tim, còn ảnh hưởng đến cả não, thận (như não cao huyết áp, suy thận, xuất huyết đáy mắt).

Trọng tâm trị bệnh thường nhắm vào dạng huyết áp cao thứ phát, tức là xác định được gốc bệnh, căn bản là làm sao kiểm soát được những tác động gây tăng huyết áp.

Có 4 bước cần tiến hành.

Bước 1: Giúp cho bệnh nhân huyết áp cao sửa đổi và làm quen với cách sống hữu ích, gồm có: Giảm cân, tiết chế uống rượu, siêng năng tập thể dục, giảm tối đa ăn muối và ngưng hẳn hút thuốc lá.

Bước 2: Nếu bệnh nhân thực hiện bước 1 có kết quả, tiếp tục cải tiến cuộc sống và bắt đầu dừng thuốc để trị bệnh, gọi là y niệu pháp.

Thuốc trị huyết áp cao gồm có: Thuốc lợi tiểu và thuốc chẹn giao cảm bê – ta nhằm 2 tác dụng chính: Giảm bớt tỷ lệ mắc bệnh tim mạch và tỷ lệ tử vong.

Trường hợp thuốc lợi tiểu và thuốc chẹn bê – ta vô hiệu hoặc không được ưa chuộng. Bác sĩ có thể cho dùng loại enzymechuyển hóa angioist như calcium antagonists, alphal – receptor antagonists, hay alpha – và beta –adenergic antagonists.

Các thứ thuốc nầy mặc dù có tác dụng làm hạ huyết áp nhưng tác nhân gây bệnh và tử suất có giảm hay không thì chưa được chứng minh.

Bước 3: Nếu thực hiện bước 2 có hiệu quả, tăng liều lượng thuốc lên thay thế bằng 1 loại khác cùng nhóm hoặc thêm 1 loại thuốc khác cùng nhóm. Tuy nhiên, điều này dễ dẫn tới một số phản ứng phụ.

Bước 4: Nếu thực hiện bước 3 có kết quả, thêm 1 loại thuốc thứ hai hoặc thứ ba hoặc 1 loại thuốc lợi tiểu. Thuốc thứ hai hoặc thứ ba bao gồm các loại thuốc gây giãn mạch.