Bệnh thấp khớp dưới góc nhìn của Đông Y

Đông y học xếp bệnh thấp khớp vào loại “Tý chứng”. Tý có hàm nghĩa là đau nhức xương khớp. Vì thế Đông y hay dùng một thuật ngữ phổ quát: “Phong thấp”.

Thấy thuốc Đông y phân định Tý chứng hay Phong thấp dưới 3 thể trạng “Phong, Hàn, Thấp” căn cứ vào từng tác nhân gây bệnh. Trong 3 thể trạng Phong, Hàn, Thấp lại còn chia thành nhiều hình thái riêng biệt, căn cứ vào mạch chứng và triệu chứng mà đặt tên. Chẳng hạn

  • Phong thắng Hàn, Thấp thì gọi là Hành tý
  • Hàn thắng Phong, Thấp thì gọi là Thống tý
  • Thấp thắng Phong, Hàn thì gọi là trước tý
  • Nếu thể chất dương thịnh lại nhuốm phải khí Phong, Hàn, Thấp lâu ngày dễ hóa nhiệt thì gọi là Nhiệt tý

Thực tế, muốn phần định ranh giới giữa Hành tý, Thống tý, Trước tý, Nhiệt tý là điều hết sức khó khăn. Bởi vì qua lâm sáng cả 3 hình thái bệnh khá giống nhau, thường quyên vào nhau để thành một tạp bệnh hỗn hợp như Phong Thấp phong có lần thấp, Phong Hàn phong có chứa hàn hay Hàn Thấp trong hàn có thấp. Vì thế, Y học cổ truyền quy nạp các dạng trên vào 2 thể loại: “Phong Hàn Thấp Tý” và “Phong Thấp Nhiệt Tý”. Hướng điều trị như sau:

  • Nếu là “Phong Hàn Thấp Tý” thì ứng dụng phương thức khu phong, tán hàn, lợi thấp. căn cứ vào tác nhân nào mạnh nhất mà sử phương cho phù hợp.
  • Nếu là “Phong Thấp Nhiệt Tý” thì dùng phương thức sơ phong (giải phong), thanh nhiệt (làm giảm sức nóng), hóa thấp (làm mất ẩm ướt) làm căn bản. Bệnh quá lâu, nên phối ngũ giữa thuốc khu tà (trừ bệnh) với thuốc phù chính (bảo vệ nội lực) để vừa trị bệnh vừa nâng cao sức khỏe.

1. Phong Hàn Thấp Tý

Triệu chứng: Đau nhức rõ rệt tại những khớp quan yếu như khớp cổ tay, khuỷu tay, khớp lưng, khớp gối. Điểm dễ nhận là khớp đau nhưng không sưng đỏ, cảm giác giác lạnh và khi chườm nóng thì dễ chịu, giảm đau.

Toàn thân cảm thấy nặng nề, khám lưỡi thấy rêu lưỡi trắng nhợt, mạch đi Khẩn hoặc Huyền, hiếm khi đi Sác.

Phân tích: Phong Hàn Thấp là loại tà khí, xâm nhập vào cơ thể làm bế tắc hoạt động của gân, mạch, ngăn trở khí huyết vận hành tới nuôi các khớp. Người xưa dạy: “Thống là bất thông”, đau nhức tức là gân mạch bị bế tắc, do vậy khớp sinh đau mỏi. Vì mạch chưa đi Sác tức là Hàn tà thiên thắng và chưa hóa nhiệt nên thân thể cảm thấy lạnh, nặng nề, chườm thấy giảm đau.

Pháp trị: Khu phong, tán hàn, trừ thấp. Bài thuốc kinh điển là bài “Quyên Tý thang gia giảm” gồm các vị: Khương hoạt, Độc hoạt, Quế chi, Tân giao, Kê huyết đằng, Tang chi để khu phong, tán hàn, hóa thấp thông lạc; Đương qui, Mộc hương, Xuyên khung, Nhũ hương để hoạt huyết, lý khí, giảm đau; Cam thảo để điều hòa dược lực.

  • Nếu Phong thắng, tăng lượng Khương hoạt, gia thêm vị Phòng phong
  • Nếu Hàn thắng, gia thêm Xuyên ô, Tế tân.
  • Nếu Thấp thắng gia thêm Phòng kỷ, ý dĩ nhân
  • Nếu mắc bện lâu ngày khí huyết suy, ra mồ hôi, sơ gió, nên gia thêm Đảng sâm, Hoàng kỳ, Bạch thược, gừng, táo để điều lý
  • Kèm thêm lưng gối đau mỏi, co duỗi khó khăn là Can thận bất túc, gia thêm Đỗ trọng, Tang ký sinh, Ngưu tất.

2. Phong Thấp Nhiệt Tý

Triệu chứng: Đau khớp xương ở 1 khớp hoặc nhiều khớp cùng một lúc. Nơi đau sưng đỏ, cảm giác nóng rát, khó cử động, gặp lạnh dễ chịu hơn. Toàn thân phát sốt, khát nước, bứ rứt không yên. Rêu lưỡi vàng, mạch đi Hoạt Sác.

Phân tích: Phong thấp giao tranh với nhiệt làm cho khí huyết bế tắc, lan tỏa tới các khớp, gây viêm và đau. Vì tà khí theo nhiệt mà hóa nên cảm thấy nóng rát; vì nhiệt tà cực thịnh nên phát sốt, khát nước; vì huyết ứ mà sưng đỏ. Nên nhớ, rêu lưỡi vàng, mạch Hoạt sác, đều thuộc chứng thực nhiệt.

Pháp trị: Thanh nhiệt, giải độc, hóa thấp sơ phong, thông lạc. Bài thuốc kinh điển thường có Thạch cao, Tri mẫu để thanh nhiệt tà, Quế chi để sơ phong thông lạc.